- Vợ - Chồng;
- Bố mẹ cùng con cái;
- Anh em trong gia đình;
- Anh chị em họ hàng thân thiết;
- Người quen biết không chung huyết thống;
Tuy nhiên, Hiến pháp và Luật Đất đai 2013 quy định người sử dụng đất không có "quyền sở hữu" đất đai mà chỉ có quyền sử dụng đất.

Đồng sở hữu được quy định cụ thể theo Khoản 2 Điều 98 Luật Đất đai 2013: Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì sổ đỏ phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 1 giấy chứng nhận. trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện.
Tại Khoản 2 Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:
“Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư.”
Vì vậy, khi chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất phải có sự đồng ý của tất cả người chung quyền sử dụng đất.
Thủ tục sang tên Sổ đỏ đồng sở hữu cũng được thực hiện theo quy trình như thủ tục làm sổ đỏ lần đầu.
Tuy nhiên, nhiều trường hợp đồng sở hữu quyền sử dụng đất trên thực tế sẽ xảy ra tình trạng chỉ một hoặc một số thành viên không thống nhất ý kiến muốn chuyển nhượng, tặng cho.
Việc đứng tên chung trên Sổ đỏ hay đồng sở hữu quyền sử dụng đất sẽ có một số mặt hạn chế như sau:
Ngoài ra, tại Điểm b Khoản 2 Điều 167 Luật Đất đai 2013 cũng quy định về việc giải quyết tình trạng này như sau:
- Trường hợp nhóm người sử dụng đất mà quyền sử dụng đất phân chia được theo phần cho từng thành viên trong nhóm, nếu từng thành viên của nhóm muốn thực hiện quyền đối với phần quyền sử dụng đất của mình thì phải thực hiện thủ tục tách thửa theo quy định, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Luật này.
- Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm người sử dụng đất không phân chia được theo phần thì ủy quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất.
Nói cách khác, khi một trong các đồng sở hữu không đồng ý chuyển nhượng toàn bộ thửa đất thì người có nhu cầu chuyển nhượng phải đề nghị tách thửa (tách phần đất của mình tương ứng với phần quyền sử dụng đất của mình), sau đó chuyển nhượng riêng phần quyền sử dụng đất được tách với điều kiện thửa đất đủ điều kiện tách thửa theo quy định của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Để hạn chế những rủi ro xảy ra sau này, khi quyết định mua đất đồng sở hữu thì cần đặc biệt chú ý những điểm sau:
- Kiểm tra, xác minh thông tin chính xác về tổng số người đồng sở hữu sổ hồng;
- Kiểm tra sổ đỏ hiện đang đứng tên ai?
- Đã chuyển qua nhiều người chưa hay vẫn chỉ 1 người?
- (Những) Người đó còn hay đã mất?
- Kiểm tra hiện trạng của đất;
- Xem xét đất có nằm trong khu quy hoạch hay không và có thật sự phù hợp với mục đích đầu tư của mình.
Nếu như bạn vẫn muốn mua nhà đất đồng sở hữu thì nên thỏa thuận với người còn lại về việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho từng người, mỗi người giữ một giấy chứng nhận. Trong trường hợp bất khả kháng xảy ra, khi không thể thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tin Tổng Hợp